TẾT NGUYÊN TIÊU Ở TRƯỜNG THCS LÝ TỰ TRỌNG
Ngày rằm tháng giêng là ngày trăng tròn đầu
tiên của năm mới, nhân dân ta goi là Tết Nguyên Tiêu. Tết Nguyên Tiêu cũng gọi là Nguyên Tịch, Nguyên Dạ hay còn
gọi là tết Thượng Nguyên. Từ
một lễ hội xa lạ có nguồn gốc từ Trung Hoa đã biến đổi thành một ngày Tết mang
đậm bản sắc rất riêng của người dân Việt, thấm nhuần giáo lý Phật pháp. Do rằm
tháng giêng trùng hợp với lễ Thượng nguyên và Tết Nguyên tiêu trong dân gian,
đồng thời ngày này là rằm đầu tiên của năm mới, thời điểm thích hợp nhất để cầu
nguyện an lành cho cả năm, nên thu hút sự tham gia đông đảo của giới Phật tử và
toàn thể dân chúng. Người dân Việt Nam ta tới rằm tháng giêng thường
hay đi chùa để cầu nguyện quốc thái dân an, một năm mới an bình, thịnh vượng,
nhà nhà hạnh phúc ấm no. Đây là một tập tục rất đẹp của người Việt Nam . “ Kim dạ
nguyên tiêu, nguyệt chính viên” là một câu thơ rất hay trong bài “ Nguyên Tiêu”
của chủ tịch Hồ Chí Minh. Vầng trăng đã tròn lại ở thời điểm giữa tháng nên đầy
đặn, tròn trĩnh hơn. Sức tỏa sáng của trăng làm cho cảnh vật từ trời cao đến
dòng sông, mặt nước đều sáng lên vẻ tươi mới, trẻ trung, xuân sắc. Ánh trăng
chan chứa tràn ngập không gian. Quả là một đêm rằm thật đẹp. Vẻ đẹp của ánh
trăng tinh khiết, trong trẻo khiến con người ta như tĩnh lại giữa dòng đời xô
bồ của cuộc sống, tìm được thứ soi sáng chính tâm hồn mình.
Trường
THCS Lý Tự Trọng đã giúp cho học sinh trở về với những phong tục của dân tộc ta
lúc xưa trong ngày tết Nguyên Tiêu. Như trang trí cây nêu ngày tết, hình ảnh
cây nêu ngày Tết được coi là biểu tượng văn hóa thiêng liêng xua tà ma, quỷ dữ
mang đến may mắn bình an cho mọi nhà; gói bánh chưng bánh tét bằng
những đạo cụ để tỏ tấm lòng biết ơn thành kính đối với trời đất, tưởng nhớ đến
những vua Hùng đã có công dựng nước trong buổi đầu sơ khai. Một nét đẹp không
thể thiếu đối vơi trường THCS trong ngày tết Nguyên Tiêu là cuộc thi viết thư
pháp, hình ảnh ông đồ do từng lớp hóa trang bày mực tàu, giấy đỏ viết câu đối
Tết trở nên rất thú vị, quen thuộc như con người ta tìm về một thoáng huy hoàng
của ông đồ ngày xưa.
Ông đồ của lớp 9/2 đạt giải ba.-Cây nêu đạt giải nhì của lớp.
Đến với buổi sinh hoạt chúng em còn trổ tài khéo tay của mình qua việc trang trí cây hoa ngày tết. Đan xen với nhũng hoạt động ý nghĩa đó là các tiết mục văn nghệ lần lượt diễn ra rộn ràng khúc ca xuân làm cho không khí vui tươi lại càng vui tươi, nhộn nhịp hơn. Buổi lễ diễn ra thành công tốt đẹp như báo hiệu một năm học thành công, gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp trong học tâp!
RẦM THÁNG GIÊNG
RẰM THÁNG GIÊNG VỚI NGƯỜI VIỆT
Rằm tháng giêng với người Việt
Bắt đầu từ mùng 6 tháng Giêng hàng năm, tính theo lịch âm, khai hội chùa
Hương cũng chính là thời điểm “khai mạc” mùa lễ hội của dân tộc Việt.
|
|
|
Ngày thơ Việt Nam - nét đẹp văn hóa của Lễ hội rằm
tháng Giêng của người Việt...
|
Trong các tháng lễ hội, có lẽ tháng Giêng dường như là tháng có nhiều lễ hội nhất bởi ông bà ta xưa quan niệm “tháng Giêng là tháng ăn chơi”…Và lễ hội được tổ chức “đình đám” nhất, “to” nhất không nói ai ai cũng biết đó là Lễ hội rằm tháng Giêng!
“Tôi lên chùa” ... Hôm nay là rằm tháng Giêng, hay còn được gọi là lễ Thượng Nguyên. Từ xa xưa, trong dân gian Việt Nam đã truyền tụng câu ca:
"Lễ Phật quanh năm
không bằng ngày rằm tháng Giêng”
không bằng ngày rằm tháng Giêng”
Vì sao có Lễ hội Rằm tháng Giêng?
Lễ hội rằm tháng Giêng được du nhập vào Việt Nam theo phong tục Tết Nguyên Tiêu của người Hoa. Tết Nguyên Tiêu có nghĩa là đêm rằm đầu tiên của năm mới (Nguyên là thứ nhất, Tiêu là đêm.) Nguyên tiêu là đêm rằm đầu tiên của một năm (ngày rằm tháng giêng âm lịch). Tết Nguyên Tiêu còn gọi là Tết Thượng nguyên bởi vì còn có Tết Trung Nguyên (rằm tháng bảy) và Tết Hạ Nguyên (Rằm tháng mười).
Vì ảnh hưởng tam giáo (Nho, Lão, Phật) cho nên người Việt cũng có Lễ Thượng nguyên mà chúng ta vẫn thường gọi là Rằm tháng Giêng:
“Rằm tháng giêng ai siêng thì quải,
Rằm tháng bảy kẻ quải, người không.
Rằm tháng mười, mười người mười quải.”
Rằm tháng bảy kẻ quải, người không.
Rằm tháng mười, mười người mười quải.”
Trong tâm thức người Việt…
Những người Việt xưa và nay theo đạo Nho coi Lễ hội rằm tháng Giêng là Tết Trạng nguyên. Nhân dịp trăng sáng đầu năm, nhà vua cho mở đại tiệc tại vườn thượng uyển, triệu các vị trạng nguyên đến dự hội, ngắm cảnh xem hoa làm thơ xướng họa, ca ngợi các vẻ đẹp thiên nhiên và ân đức nhà vua đã đem lại thái bình thịnh trị.
Viết đến đây, tôi lại nhớ có người nước ngoài đã nói: “Trong tâm hồn người Việt Nam luôn có một ông quan và một nhà thơ”. Ông quan thì tôi chưa chắc lắm, nhưng “nhà thơ” thì đúng rồi. Gần 10 năm nay, Hội nhà văn Việt Nam đã lấy ngày rằm tháng Giêng làm Ngày thơ Việt Nam để tôn vinh thơ ca. Tất cả các tỉnh thành đều tổ chức ngày thơ như một lễ hội và bài thơ Nguyên tiêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng là “diễn văn” khai hội chào mừng...
Với những người theo đạo Phật, thật ra rằm tháng Giêng tuy không phải là lễ quan trọng của Phật giáo so với rằm tháng Tư (Phật đản) và rằm tháng Bảy (Vu lan) nhưng trùng hợp với lễ Thượng nguyên và Tết Nguyên tiêu trong dân gian, đồng thời ngày này là rằm đầu tiên của năm mới, thời điểm thích hợp nhất để cầu nguyện an lành cho cả năm, nên thu hút sự tham gia đông đảo của giới Phật tử và toàn thể dân chúng.
Trong dân gian với số đông người theo phong tục thờ cúng ông bà thì rằm tháng Giêng trước hết được hiểu một cách đơn giản là ngày rằm lớn.
Tùy theo tín ngưỡng và ngành nghề, có gia đình lễ bái chư Phật, có gia đình cúng thổ công, thần tài hoặc cúng âm hồn các đẳng... Nhưng không ai có thể quên bày mâm cỗ để cúng gia tiên, bày tỏ lòng hiếu kính với ông bà, cha mẹ, cảm ơn trên đã phù hộ cho con cháu an lành, làm ăn khá giả…
Mâm cỗ cúng gia tiên vào ngày rằm tháng Giêng theo từng tín ngưỡng của từng gia đình sẽ có sự khác nhau và tùy từng vùng miền…
Gia đình theo đạo Phật sẽ cúng chay và ăn chay. Lễ vật dâng cúng thường dùng rau quả, trầu cau, chè xôi, các món đậu, canh xào...
Ở các chùa thôn quê, làng quê, cỗ bàn chỉ dùng tương chao, hoa quả nấu với đậu khuôn, đậu phụng, dầu phụng, không thêm nhiều hương liệu nên khi ăn người ta hay bảo nhau: ăn chay phải trộn nhiều món vào một tô mới ngon.
Ở miền Trung, nhiều người không theo đạo Phật thì ngày rằm cúng chè xôi và cúng mặn. Cỗ bàn mặn cũng gồm các món cơm canh tuy không thịnh soạn như ngày Tết Nguyên đán…
Một nét văn hóa chung gặp nhau của cả 3 miền Bắc- Trung – Nam của Lễ hội rằm tháng Giêng chính là dòng người từ già đến trẻ, đi lễ đầu xuân, lên chùa cầu an. Đây được xem là một phong tục đẹp, một nét sinh hoạt văn hoá của dân tộc Việt Nam.
Không biết những thỉnh cầu có đến được cửu trùng hay không, nhưng mọi người đều tin rằng sau khi đi lễ đầu năm hay đi trảy hội trở về, tâm hồn của họ như được thắp sáng lên và ngày mai cuộc sống sẽ tươi đẹp hơn.
Và đêm mai(đêm 15 tháng giêng) sẽ là đêm Nguyên tiêu 2011, đêm đẹp nhất của ánh trăng của năm Tân Mão…Dù bao biến đổi của đất trời đã và đang diễn ra nhưng xưa và nay, vầng trăng tháng Giêng vẫn vẹn nguyên như thế, tròn và trong sáng giữa trời xuân. Thế thôi cũng đủ để lòng người ta cảm tạ trời đất ban cho mặt trời còn tặng cả vầng trăng. Trăng già còn trăng non, trăng tròn thêm trăng khuyết. Trăng mùa đông tàn thì còn trăng xuân đón đợi. Đó chính là vầng trăng tỏa sáng cái tết trăng tròn đầu tiên khởi sự cho một năm: rằm tháng Giêng!
Thanh Loan (Tầm Nhìn)
© 2008-2016 Bản quyền thuộc về Báo Giác Ngộ
NÉT ĐẸP TRONG NẾP SỐNG NGÀY TẾT CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI VIỆT
Nét đẹp trong nếp sống ngày Tết cổ truyền
của người Việt
Tết Nguyên Đán là tiết lễ đầu tiên trong năm, mở đầu
cho một năm mới với bao niềm tin và hy vọng về những thay đổi tốt lành.
Sau những tháng ngày tảo tần, vất vả làm ăn, “năm hết Tết đến” là dịp để
mọi người nghỉ ngơi và sum họp. Bởi thế Tết là một sinh hoạt văn hóa với
nhiều ý nghĩa vô cùng thiêng liêng và cao quý của dân tộc Việt Nam ta.
Quanh năm suốt tháng, mọi người đều phải lo làm ăn để kiếm sống, có người
phải đi làm ăn nơi đất khách quê người. Vì thế, ngày Tết là ngày để
mọi người được đoàn tụ dưới mái ấm gia đình của mình. Hầu hết mọi người,
dù có khó khăn đến đâu, dù cách xa đến đâu, họ cũng cố gắng trở về để cùng
đón Tết với gia đình. Tất cả
các thành viên trong gia đình đều cùng nhau chuẩn bị cho ngày Tết. Các mẹ, các
chị thì lo việc bếp núc, cổ bàn, còn những người đàn ông, con trai thì lo quét
dọn nhà cửa, vườn tược, bàn thờ gia tiên cho trang nghiêm, sạch đẹp.
Ngày thường, rất hiếm khi tất cả các thành viên trong
gia đình có mặt đông đủ. Chỉ có ngày Tết mọi người trong gia đình mới có cơ hội
để quây quần bên nhau, cùng ăn cơm với nhau và cùng nhau hàn huyên tâm sự, chia
sẻ và cảm thông cho nhau. Do vậy, ngày Tết là ngày của sự đoàn tụ, là ngày để
mọi người trở về với gia đình huyết thống của mình. Sự trở về này làm cho mọi
người cảm thấy ấm áp tình người, không còn thấy mình bị lạc lõng, bơ vơ giữa
dòng đời táp nập.
Nét đẹp văn hóa truyền thống ngày tết Cùng với sự trở về với gia đình
huyết thống là sự trở về với gia đình tâm linh. Từ rất xa xưa, người Việt
chúng ta đã biết thờ cúng ông bà, tổ tiên của mình. Dù có nghèo khó đến
mấy, mọi gia đình đều cố gắng sắm sửa một vài mâm cổ để cúng ông bà, tổ
tiên, mời ông bà tổ tiên cùng về đón Tết với con cháu. Việc làm này đã tác
động sâu sắc vào tâm thức của những người con đất Việt, nhắc nhở mọi người
nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của ông bà, cha mẹ, làm cho lòng hiếu
thảo trong mỗi người con được tiếp thêm sức mạnh, được nuôi lớn không
ngừng.
Ngày đầu năm đi chùa lễ Phật đã trở thành một tập tục
của người dân nước ta. Phần lớn người dân Việt, dù theo đạo Phật hay không
theo đạo Phật, họ đều đến chùa vào ngày đầu năm. Mọi người đến chùa để lễ
Phật, để cầu nguyện và hái lộc đầu Xuân. Đối với người Việt chúng ta, ngày
đầu năm có ý nghĩa rất quan trọng, nó có thể ảnh hưởng đến đời sống của
bản thân suốt cả một năm. Vì thế mọi người đã tìm đến với chốn thiên, nơi
trang nghiêm, thanh tịnh để gột sạch thân tâm. Khi lễ Phật, thân quỳ trước
đức Phật nên thân nghiệp được thanh tịnh, miệng xưng tán danh hiệu Phật và
phát lời cầu nguyện chân chính nên khẩu nghiệp được thanh tịnh, tâm ý
duyên theo danh hiệu Phật và lời cầu nguyện nên ý nghiệp được thanh tịnh.
Ngày Xuân đi chùa ngoài việc lễ Phật và cầu nguyện, mọi người còn có thói
quen hái lộc đầu Xuân. Người ta hái một nhánh lá, một cành hoa trong vườn
chùa với niềm tin là sẽ được may mắn, an lành trong một năm, mong sao năm
mới có được một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Như vậy, Tết là một dịp tốt để mọi người trở về với
gia đình tâm linh, sống với đời sống tâm linh của mình. Sự trở về này đã
tiếp thêm sức mạnh cho mọi người trong cuộc sống, giúp mọi người tự tin
hơn và lạc quan hơn trước những biến cố của cuộc đời. Không những
thế, ngày Tết còn là dịp nhắc nhở mọi người nhớ đến những vị ân nhân của mình và cũng là dịp để thể hiện
lòng biết ơn. Người Việt chúng ta đã nhắc nhở nhau rằng:
“Mồng một ăn Tết nhà cha
Mồng hai nhà mẹ, mồng ba nhà thầy.”
Qua đây cho chúng ta
thấy rằng, người Việt Nam rất trọng hiếu đạo. Làm người thì điều quan trọng
nhất là phải hiếu thảo với cha mẹ. Cha mẹ là người sinh ra ta, giáo dưỡng ta
nên người, đã chịu không biết bao nhiêu cay đắng để cho chúng ta có được một
cuộc sống ngọt bùi. Cha mẹ đã hy sinh cả cuộc đời mình cho con. Vì thế, làm con
thì phải hiếu thảo với cha mẹ, ngày đầu năm phải thăm viếng cha mẹ, mừng tuổi
cha mẹ, phải chăm lo cho cha mẹ để cha mẹ được vui lòng.
Sau cha mẹ là người thầy. Cha mẹ là
người sinh ra ta, còn thầy là người tác thành sự nghiệp cho ta, dạy cho ta biết
những điều hay, lẽ phải trong cuộc sống. Ân tình của thầy cũng vô cùng sâu
nặng. Cho nên làm người thì phải biết đền đáp công ơn dạy dỗ của thầy. Một
trong những cách thức thể hiện lòng biết ơn và đền ơn đối với thầy là phải thăm
viếng thầy vào dịp đầu Xuân. Người học trò không nhất thiết phải đem mâm cao cỗ
đầy đến cho thầy, chỉ cần đến với thầy bằng tấm chân tình thì dù không có một
món quà nào cả cũng đủ làm ấm lòng thầy, đủ làm cho thầy hạnh phúc lắm rồi. Sự
viếng thăm những người thân, những vị ân nhân trong ngày Tết là một nghĩa cử
cao đẹp. Và có một điều mà người Việt chúng ta cũng rất chú trọng trong dịp
Tết, đó là sự thận trọng trong mọi cử chỉ, hành vi của mình. Bởi mọi người nghĩ
rằng, những gì diễn ra trong ngày đầu năm sẽ ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của
năm đó, cho nên mọi người rất thận trọng trong lời nói, cách ứng xử của mình và
trong việc làm của mình. Ngày tết, mọi người kiêng cử những lời gắt gỏng, những
hành động, việc làm thô lỗ như chửi mắng, đánh đập… Dù cho trong năm cũ có
những sự hiểu lầm, thù oán hay ganh ghét, đố kỵ nhau thì đến ngày Tết người ta
cũng vui vẻ bỏ qua cho nhau, mọi người thường nhắc nhở nhau rằng, “Giận đến
chết, ngày Tết cũng vui”. Đây chính là sự biểu hiện của một sức sống cộng đồng
thân ái, bao dung, độ lượng và đầy trách nhiệm. Trong những ngày Tết còn có
nhiều trò vui chơi giải trí, các hội thi bình dân, lành mạnh và bổ ích để cho
mọi người có thể vui chơi, như là đua thuyền, thi đấu vật, thi đấu bóng đá, bóng
chuyền, kéo co... Các cuộc thi này bao giờ cũng thu hút đông đảo người xem. Tục
xin chữ ngày Tết, treo câu đối đỏ, treo tranh thư pháp... cũng là những thú
chơi tao nhã và mang nhiều ý nghĩa cao quý. Đầu năm người thường xin chữ nhẫn,
chữ phúc, lộc, thọ, chữ tâm, chữ đức... Những chữ này cũng như nội dung của các
câu đối, các câu thư pháp đều chứa đựng trong nó những ý nghĩa sâu sắc. Ngoài
những câu có nội dung cầu chúc những điều may mắn cho năm mới, còn lại phần lớn
là những câu, những chữ có tác dụng giáo dục đạo đức, tình cảm cho con cháu
trong gia đình.
Những nét đẹp trong nếp sống ngày Tết của nhân dân ta
có vai trò quan trọng trong việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ. Giữ
gìn và phát huy những nét đẹp ấy là một việc làm có ý nghĩa, góp phần làm
cho bộ mặt và bản sắc văn hóa Việt thêm phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc,
văn minh, và tốt đẹp hơn.
Những bậc phụ huynh, những người làm công tác giáo
dục, công tác văn hóa phải là những người đi đầu và làm gương trong việc
giữ gìn và phát huy những nét đẹp trong nếp sống ngày Tết của người Việt.
Và tất cả mọi thành viên trong xã hội cũng phải nêu cao ý thức này. Có như
thế đất nước ta mới có thể càng ngày càng tiến bộ, càng ngày càng văn
minh, hạnh phúc.
LỊCH NGHỈ TẾT NGUYÊN ĐÁNG.
Học sinh bắt đầu nghỉ Tết từ ngày 05/02 đến hết ngày 14/02/2016. Các em chú ý lịch nghỉ Tết và thực hiện tốt nhé. Chúc các em có một cái tết thật vui vẻ và ấm cúng bên gia đình.
QUÁN TRIỆT MỘT SỐ YÊU CẦU TRƯỚC, TRONG VÀ SAU TẾT BÍNH THÂN 2016
MỘT SỐ YÊU CẦU TRƯỚC, TRONG
VÀ SAU TẾT BÍNH THÂN 2016
1. Tích cực tham gia các hoạt động “Mừng Đảng – Mừng Xuân” do Ủy ban Nhân dân, ngành Giáo dục và các ban ngành liên quan của thành phố tổ chức.
2. Tham gia thực hiện các hoạt động vui chơi lành mạnh.
3. Không tham gia các trò
chơi nguy hiểm.
4. Không tham gia các hoạt động tàng trữ, sử dụng trái phép các chất gây cháy, gây nổ,… Đặc biệt, không tham gia vận chuyển, mua bán, tàng trữ hoặc đốt pháo, đốt đèn trời, sử dụng các loại đồ chơi nguy hiểm bị cấm.
5. Không tham gia các hoạt động gây rối trật tự an toàn xã hội, các tệ nạn xã hội như uống nước có chất cồn, chơi các trò
chơi ăn tiền mang tính cờ bạc dưới mọi hình thức, mê tín dị đoan, không sử dụng văn hóa phẩm có nội dung thiếu lành mạnh,…
6. Tuyên truyền thực hiện Văn hóa giao thông để đảm bảo an toàn
cho chính mình và gia đình, cảnh báo nguy cơ tai nạn giao
thông trong những ngày trước, trong và sau Tết, không sử dụng xe mô tô
– xe máy, đồng thời phải đội mũ bảo hiểm đảm bảo chất lượng khi được phụ huynh đưa đón bằng mô tô, xe máy. Đặc biệt, không vi phạm pháp luật về An toàn giao thông.
7. Thực hiện tốt nề nếp (đặc biệt tác phong), chuyên cần ngay trong những ngày cuối năm và đầu năm mới.
*Nếu học sinh nào vi phạm sẽ bị các hình thức kỷ luật sau:
- Cá nhân: Hạ hạnh kiểm.
- Tập thể: Hạ một bậc vị thứ trong thi đua của Học kỳ II.
Ý NGHĨA LỊCH SỬ SỰ RA ĐỜI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.
Ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
Kỷ niệm 86 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2016)
Cuối năm
1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức
được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng cộng sản thống nhất, chấm
dứt tình trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã tổ
chức và chủ trì hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 6-1
đến ngày 7-2-1930. Hội nghị đã quyết định hợp nhất 3 tổ chức Đảng (Đông Dương
Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng
Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách
lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng. Vì vậy, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3-2 hàng năm làm
ngày kỷ niệm thành lập Đảng.
- Hội nghị
hợp nhất các tổ chức Đảng cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất,
theo một đường lối chính trị đúng đắn đã tạo nên sự thống nhất về tư tưởng,
chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh
giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và
hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời là sự kiện lịch sử trọng đại, một bước ngoặt trong lịch sử cách mạng
Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc
ta.
- Sự ra đời
của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện
thân trọn vẹn nhất cho sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp
giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
- Sự kiện
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và việc ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương
lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo
phương hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra
đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được
tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng
diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất
nước Việt Nam. Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực
lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành
động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này.
Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng phát triển, bước đi của
cách mạng Việt Nam trong suốt 86 năm qua.
- Với chủ
trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới,
ĐCSVN đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang. Đồng
thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung
của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
CÂY NẾU NGÀY TẾT
Cây nêu trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam có đặc điểm khá đa dạng tùy thuộc địa phương,
phong tục, dân tộc, giai cấp xã hội v.v.
Cu kêu ba tiếng cu kêu
Trông mau đến Tết dựng nêu ăn chè…
Ngày xưa, cứ đến chiều 23
tháng chạp âm lịch, mọi nhà đều dựng nêu, đón Tết. Đối với người dân Việt Nam,
hình ảnh cây nêu ngày Tết được coi là biểu tượng văn hóa thiêng liêng nhất. Cây
nêu gắn liền với một sự tích huyền thoại thấm đẩm tính nhân văn sâu sắc.
Trong Kho tàng truyện cổ tích Việt
Nam của Nguyễn
Đổng Chi: Ngày xưa Quỷ chiếm
toàn bộ đất nước, còn Người chỉ làm thuê, và nộp phần lớn lúa thu hoạch cho
Quỷ. Quỷ ngày càng bóc lột Người quá tay, và cuối cùng Quỷ tự cho mình hưởng
quyền "ăn ngọn cho gốc". Người chỉ được hưởng rạ, tuyệt đường sinh
nhai nên cầu cứu Đức Phật giúp đỡ. Phật bảo Người đừng trồng lúa mà trồng khoai
lang. Mùa thu hoạch ấy, Người được hưởng không biết bao nhiêu củ khoai, còn Quỷ
chỉ hưởng lá và dây khoai, đúng theo phương thức “ăn ngọn cho gốc”.
Sang mùa khác, Quỷ
lại chuyển qua phương thức "ăn gốc cho ngọn". Phật bảo Người lại
chuyển sang trồng lúa. Kết quả Quỷ lại hỏng ăn. Quỷ tức lộn ruột nên mùa sau
chúng nó tuyên bố "ăn cả gốc lẫn ngọn". Phật trao cho Người giống cây
ngô (bắp) để gieo khắp nơi. Quỷ lại không được gì, còn Người thì thu hoạch cơ
man là trái ngô. Cuối cùng Quỷ nhất định bắt Người phải trả lại tất cả ruộng
đất không cho làm rẽ nữa.
Phật bàn với Người
điều đình với Quỷ, xin miếng đất bằng bóng chiếc áo cà sa treo trên ngọn cây
tre. Quỷ thấy không thiệt hại gì nên đồng ý. Khi đó Phật dùng phép thuật để
bóng chiếc áo cà sa đó che phủ toàn bộ đất đai khiến Quỷ mất đất phải chạy ra
biển Đông.
Do mất đất sống nên
Quỷ huy động quân vào cướp lại. Trận đánh này bên Quỷ bị thua sau khi bị bên
Người tấn công bằng máu chó, lá dứa, tỏi, vôi bột... và Quỷ lại bị Phật đày ra
biển Đông. Trước khi đi, Quỷ xin Phật thương tình cho phép một năm được vài ba
ngày vào đất liền viếng thăm phần mộ của tổ tiên cha ông. Phật thương hại nên
hứa cho.
Do đó, hàng năm, cứ
vào dịp Tết Nguyên đán là những ngày Quỷ vào thăm đất liền và người ta theo tục
cũ trồng cây nêu để Quỷ không bén mảng đến chỗ Người cư ngụ. Trên nêu có treo
khánh đất, có tiếng động phát ra khi gió rung để nhắc nhở bọn Quỷ nghe mà
tránh. Trên ngọn cây nêu còn buộc một cành đa mới hái để cho Quỷ sợ.
Ngoài ra, người ta còn tùy phong tục người ta vẽ hình cung tên hướng mũi nhọn
về phía đông và rắc vôi bột xuống đất trước cửa ra vào trong những ngày Tết …để
cấm cửa Quỷ.
Như vậy, trong truyền
thuyết, cổ tích dân gian Việt Nam đã lý giải tại sao ngày Tết phải trồng cây
nêu, phải treo cành đa trước nhà và sự lý giải đó không đi ngoài truyền thuyết
Phật giáo. Cây nêu trở thành biểu tượng của sự đấu tranh giữa cái thiện và ác,
giữa thiên thần và quỷ dữ, nhằm bảo vệ cuộc sống bình yên cho con người. Ngày
Tết thần linh về trời, con người cần có những "bửu bối" của thần nhằm
đề phòng cảnh giác, chống lại sự xâm nhập của ác quỷ.
Cây nêu trong cộng đồng
các dân tộc Việt Nam có đặc điểm khá đa dạng tùy thuộc địa phương, phong tục,
dân tộc, giai cấp xã hội v.v. Có cây nêu mang tính nguyên sơ, không gắn liền
với lễ hội mà hình thức cổ xưa nhất còn thấy ở cộng đồng người nông dân, với
tục dùng cành tre dài cắm trên ruộng sau khi gặt. Khi thấy dấu hiệu này, người
ta biết là chủ ruộng giữ lại mầm lúa cho mùa năm sau, không thể tuỳ tiện thả
trâu bò vào ăn. Riêng đối với dân tộc thiểu số, cây nêu loại này xuất hiện ở
những vùng rẫy thuộc sở hữu cá nhân chưa khai hoang. Người chủ rẫy tìm bốn cây
cao to, chặt đứt ngang thân, dựng ở bốn góc rẫy như bốn cái trụ và gọi đó là
cây nêu…
Những cây nêu gắn liền
với các lễ hội như ngày Tết, hội làng, có hình thức cầu kỳ hơn. Cây nêu thường
sử dụng một số loại cây họ tre như tre, bương, lồ ô, có độ cao khoảng 5-6 mét,
chặt sạch các nhánh và lá tre, chỉ để lại trên ngọn tre có nhánh lá. Trên
ngọn cây treo một vòng tròn nhỏ, vòng tròn này buộc nhiều thứ khác nhau (tùy
phong tục địa phương) như: lá phướn, chiếc khánh (chuông gió) để những
khánh đó va đập nhau kêu leng keng trong gió. Chiếc khánh, đồng âm với “khánh”
có nghĩa là “phúc”: năm mới đem lại hạnh phúc cho gia đình…
Trong những ngày Tết cổ
truyền, vào buổi tối trên cây nêu có nơi còn treo một đèn lồng nhằm chỉ đường
cho tổ tiên biết đường về ăn Tết với con cháu…
Cây nêu được dựng vào
ngày 23 tháng Chạp âm lịch, là ngày Táo quân về trời, với quan niệm rằng từ
ngày 23 cho tới đêm giao thừa, vắng mặt Táo công, ma quỷ thường nhân cơ hội này
lẻn về quấy nhiễu. Ngày dựng cây nêu gọi là thượng
nêu, và ngày 7 tháng giêng âm lịch, làm lễ hạ nêu.
Ngày xưa cây nêu được
dựng với ý nghĩa trừ ma quỷ, nhưng ý nghĩa thực của cây nêu trong cộng đồng các
dân tộc Việt Nam trải rộng hơn. Theo thời gian, cùng với sự phong phú của các
lễ vật treo trên ngọn cây, cây nêu được coi là cây vũ trụ nối liền đất với
trời, do tín ngưỡng thờ thần mặt trời của các dân tộc cổ sơ, hàm chứa ý thức về
lãnh thổ của người Việt Nam. Dựng nêu ngày Tết bao gồm trong nó cả các dụng ý
để trừ ma, quỷ, thờ phụng thần linh và vong hồn tổ tiên, tảo trừ những điều xấu
xa của năm cũ. Trong xã hội thị tộc, chiếm hữu nô lệ thì cây nêu biểu trưng cho
một cộng đồng tộc người, khẳng định địa vực cư trú của cộng đồng đó. Trong các
lễ hội, cây nêu là tiêu điểm tập trung, cố kết của tâm thức cộng đồng. Ðối với
người nông dân, nông lịch luôn gắn bó với cuộc sống, định hình thời vụ sản xuất
và sinh hoạt, lễ hội. Thời điểm cuối năm là lúc nông nhàn, chuẩn bị bước vào
các hoạt động vui chơi. Khi cây nêu được dựng lên, tất cả mọi hoạt động khác
đều dừng lại. Nó tạo nên thế cân bằng tuyệt đối trong sự vận hành thay đổi giữa
năm cũ và năm mới. Con người yên tâm vui chơi, cả cộng đồng sinh hoạt vui vẻ,
quên đi những vất vả, nhọc nhằn của năm cũ.
Ngày xưa, cây nêu là biểu
tượng cho sự uy quyền, nhà nào có quyền thế nhất là nhà đó cây nêu cao nhất.
Gần đây, phong tục trồng cây nêu ngày Tết đã dần mất đi trong cộng đồng người
Việt Nam thời hiện đại, và được thay thế với tục chơi cành hoa đào, hoa mai
ngày Tết. Cây nêu chỉ còn bắt gặp tại các chùa, đình, một số vùng quê. Hiện
nay, những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc dần dần được phục hồi,
trong những năm gần đây cây nêu được dựng lên tại các chùa, đình, khu du lịch,
các trung tâm văn hóa, công ty… thể hiện chủ
quyền của nền văn hóa
truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam mãi mãi không bao giờ mất. Đặc biệt,
cây nêu còn được coi là cây vũ trụ - nối liền Đất với Trời. Tán tròn bằng giấy
đỏ tượng trưng cho Mặt Trời và ngọn nêu là nơi chim thần (sứ giả của Mặt Trời)
đậu. Cuối năm trồng cây nêu để đầu năm ngọn nêu vươn lên cao đón ánh nắng xuân,
sức sống xuân, để cầu cho mọi người mãi mãi một mùa xuân…
Cây nêu của dân tộc Việt
Nam còn mang triết lý âm dương, được biết qua hai chữ Càn (Trời) và Khôn (Đất)
nằm trong hình ảnh cái nón và cây gậy của Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Nó
bao hàm sự thống nhất và tương trợ giữa Âm và Dương hay sự không tách rời giữa
Động và Tĩnh…
NNC Trí Bửu, trước thêm năm mới Xuân Giáp Ngọ -
2014
KẾ HOẠCH THÁNG 2,3 NĂM HỌC 2016:
KẾ HOẠCH THÁNG 2,3 NĂM HỌC 2016:
- TẾT NGUYÊN TIÊU: XÉ HOA, VẼ TRANH, VIẾT THƯ PHÁP, LÀM MÂM CỖ NGÀY XUÂN, TRANG TRÍ CÂY NÊU NGÀY TẾT.
- VĂN NGHỆ
- CẮM TRẠI - THI KHOA HỌC KỸ THUẬT
GIỚI THIỆU VỀ MÂM CỖ NGÀY XUÂN
Trong mỗi chúng ta chắc
hẳn không có ai không được ăn cỗ. Bữa cỗ Việt Nam đã có từ xưa và gắn với
truyền thống lâu đời của cả dân tộc, của đất nước, của làng xóm quê hương mình.
Thú thật ăn cỗ không chỉ là niềm vui mà còn là nghĩa vụ của người lớn. Những
đứa trẻ nhỏ được ăn cỗ là niềm vui, là kỷ niệm đọng lại trong ký ức tuổi thơ
rất khó phai nhòa theo thời gian.
Từ lâu nâm cỗ đã trở thành nét văn hóa truyền thống của dân tộc
ViệtNam. Dù nhà giàu có, dù nhà nghèo thì đến ngày giỗ ông bà tổ tiên, đặc biệt
là ngày tết không chỉ có mâm ngũ quả mà phải có mâm cỗ mặn, có bánh các loại
làm từ hạt gạo để cúng gia tiên ngày đầu năm. Theo phong tục của ông bà để lại
dù cỗ tết, cỗ giỗ, cỗ cưới hay cỗ khao thì bao giờ cũng có 10 món ăn, 5 bát, 5
đĩa. 5 bát gồm: miến, bóng, măng, mọc, nấm. Đĩa gồm có thịt gà luộc, giò chả,
xào, đĩa nộm, xôi. Tất nhiên cũng tùy theo điều kiện kinh tế của từng gia đình,
đông hay ít người mà thêm bớt số lượng chút ít. Có nhà cỗ to có thêm thịt bò,
lòng lợn, nem rán, nhiều khi có nhiều món phải xếp hai tầng đĩa.
Thông thường những hôm gia đình có cỗ để mời bà con họ hàng thân
thích đến ăn thì những người mẹ, người vợ hay con dâu, con gái trổ tài khéo léo
về nội trợ. Ngoài việc nấu các món ăn ngon vừa mắm, vừa muối, nhiều chị em phụ
nữ còn khéo tay cắt tỉa các loại hoa quả hình lá, hình hoa để lên đĩa nộm, đĩa
xào hay quả ớt, lát cà chua, củ hành làm cho đĩa thức ăn trên mâm cỗ thêm hấp
dẫn, mâm cỗ sạch sẽ, khách mời đến đông đủ là niềm vui của cả chủ nhà và khách
khi ngồi vào mâm cỗ.
Trên mâm cỗ bao giờ cũng có các món ăn sẵn, mâm sắp đủ 4 hoặc 6 cái
bát, có nơi lại sắp 5 cái và số đôi đũa đi theo số bát, chén uống rượu và một
chai rượu trắng. Nếu là cỗ cúng được đặt lên bàn thờ, chủ nhà y phục chỉnh tề,
thắp ba nén hương thơm. Nếu nhà có lư hương thì đốt hương trầm hương thơm phảng
phất, rồi khấn vái tổ tiên ông bà về vui sum họp, ăn tết cùng con cháu, mong tổ
tiên, ông bà phù hộ cho con cháu an khang thịnh vượng.
Tục thờ cúng tổ tiên, làm cỗ của các gia đình ViệtNamcó biểu hiện
lòng thành kính, biết ơn của con cháu đối với ông bà, cha mẹ. Làm cỗ cúng gia
tiên còn mang ý nghĩa giáo dục cho lớp trẻ biết, cây có gốc nước có nguồn, có
tổ tiên ông bà mới có mình và con cháu hôm nay. Những mâm cỗ cúng phải hết một
tuần hương mới được hạ xuống, tùy theo cách sắp xếp cỗ của gia chủ, có thể ngồi
giường, có khi trải chiếu xuống nền nhà. Nhưng phải chú ý "ăn trông nồi,
ngồi trông hướng" ngồi trên giường là hàng ông bà, cha mẹ, cô dì, người
lớn tuổi; mâm dưới (trải chiếu dưới đất) là hàng con cháu.
Đi ăn cỗ không phải chỉ để ăn mà còn là niềm mong mỏi, giao du, xum
họp gia đình, họ hàng nội, ngoại. Lúc ăn cỗ ai cũng nói cười vui vẻ, vừa ăn vừa
chúc tụng, thăm hỏi lẫn nhau, qua bữa cỗ những thắc mắc, giận hờn, hiểu lầm
nhau sẽ được xóa nhòa. Từ đó mối quan hệ càng được thắt chặt hơn. Trong các bữa
ăn cỗ tuy thân mật, vui vẻ song khi ăn uống cũng thể hiện nét văn hóa, lịch sự,
nhất là khi được ngồi cùng mâm với ông bà, cha mẹ và người lớn tuổi. Khi ăn
không được chống đũa lên mâm mà phải dùng tay sửa đũa ngay ngắn, khi gắp thức
ăn không đảo xới, không dùng đũa xê dịch bát, đĩa trong mâm, trước khi ăn phải
mời người cao tuổi gắp trước, không nên vừa ăn vừa nói. Các cô con gái, con dâu
phải ý thức, nhất là khi có khách lạ, có người lớn tuổi.
Mâm cỗ ngày tết ở trong gia đình cúng tổ tiên là làm cho ta có lòng
tin ở sự có mặt của ông bà, cha mẹ trên bàn thờ, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc
sống của con cháu. Ai cũng không dám làm điều gian dối, độc ác, e bị tội với
ông bà, cha mẹ, tổ tiên và muốn được hưởng, phúc đức của tổ tiên để lại cho con
cháu. Mâm cỗ ngày tết thường khác với tiệc liên hoan, khao gặp gỡ, ăn mừng
thắng lợi. Mâm cỗ rất quen thuộc với người ViệtNamtừ thành phố đến nông thôn
vào những ngày tết xuân về. Những người đi xa quê hương xứ sở nhiều năm vào
những ngày tết khi nghĩ về quê hương đều nhớ đến không khí ấm cúng gia đình và
hương vị mâm cỗ tết đầu năm.
Theo VHNT Ẩm thực
ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XII ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.
- Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 20-
28/01/2016 tại Thủ đô Hà Nội.
Sáng 29/1, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị Báo cáo
viên các tỉnh, thành phố, các cơ quan và đảng ủy trực thuộc Trung ương tháng
2/2016 bằng hình thức trực tuyến thông tin nhanh về kết quả Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII của Đảng và định hướng công tác tuyên truyền trong thời
gian tới.
Thông tin nhanh Kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, đồng chí Mai Văn Ninh, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nêu rõ: Với tinh thần "Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đổi mới", với ý thức trách nhiệm cao trước Đảng, nhân dân và đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã hoàn thành tốt đẹp toàn bộ nội dung, chương trình đề ra.
Đại hội biểu thị sự thống nhất ý chí và quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong những năm tới, thực hiện bằng được mục tiêu tổng quát : "Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước. Nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới".
Đại hội đã thảo luận và thông qua những chủ trương, quyết sách quan trọng, có giá trị định hướng và chỉ đạo sâu sắc toàn bộ quá trình triển khai tổ chức thực hiện phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước nhanh, bền vững, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đại hội khẳng định quyết tâm tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ, phẩm chất và đạo đức cách mạng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu tăng cường sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng trên cơ sở Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nguyên tắc của Đảng; thường xuyên bồi đắp sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân - những phẩm chất cao quý, tốt đẹp, cốt lõi thể hiện bản chất và sức sống của Đảng.
Thông tin nhanh Kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, đồng chí Mai Văn Ninh, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nêu rõ: Với tinh thần "Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đổi mới", với ý thức trách nhiệm cao trước Đảng, nhân dân và đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã hoàn thành tốt đẹp toàn bộ nội dung, chương trình đề ra.
Đại hội biểu thị sự thống nhất ý chí và quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong những năm tới, thực hiện bằng được mục tiêu tổng quát : "Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước. Nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới".
Đại hội đã thảo luận và thông qua những chủ trương, quyết sách quan trọng, có giá trị định hướng và chỉ đạo sâu sắc toàn bộ quá trình triển khai tổ chức thực hiện phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước nhanh, bền vững, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đại hội khẳng định quyết tâm tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ, phẩm chất và đạo đức cách mạng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu tăng cường sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng trên cơ sở Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nguyên tắc của Đảng; thường xuyên bồi đắp sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân - những phẩm chất cao quý, tốt đẹp, cốt lõi thể hiện bản chất và sức sống của Đảng.
LỊCH THI VIOLIMPIC TOÁN CẤP TRƯỜNG.
LỊCH THI : Ngày 21/01/2016
* Buổi sáng: Tất cả các khối lớp - Khối lớp 6 từ 10:h00 đến 10h30. và
khối lớp 8: từ 7h00 đến 7h30.
* Buổi chều:- Khối lớp 7 : từ 1h30 đến 3h. -
Khối lớp 9 : từ 13h00 đến 16h30.
LỊCH THI IOE CẤP THÀNH PHỐ NĂM HỌC: 2015-2016.
LỊCH THI: Ngày 16/01/2016
* Buổi sáng: Tất cả các khối lớp - Khối lớp 3 và
khối lớp 8: từ 7h00 đến 7h30. - Khối lớp 4 và khối lớp 9: từ 8h00 đến 8h30. -
Khối lớp 5: từ 9h00 đến 9h30. - Khối lớp 6: từ 10h00 đến 10h30. - Khối lớp 7: từ
11h00 đến 11h30.
LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY HỌC SINH SINH VIÊN (9/1/1950 - 9/1/2016)
LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY HỌC SINH SINH VIÊN (9/1/1950 - 9/1/2016)
Từ giữa năm 1949 đến đầu năm
1950 phong trào đấu tranh của thanh niên học sinh, sinh viên chống chủ nghĩa
thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, chúng “ độc lập” giả hiệu, chống khủng
bố đàn áp, đòi đảm bảo an ninh cho học sinh, đòi được học tiếng mẹ đẻ… đã diễn
ra rầm rộ, liên tục và rộng khắp từ Nam chí Bắc. Tại Saì Gòn, các tầng lớp đồng
bào cũng tích cực hưởng ứng dưới nhiều hình thức : biểu tình chống sưu thuế,
chống bắt lính, đòi công ăn việc làm. Học sinh, sinh viên bãi trường, bãi khóa
liên miên.
Ngày 9 tháng 1 Ngày truyền thống Học sinh Sinh viên Việt Nam Ngày 09/01/1950, Đoàn Thanh Niên cứu quốc và
Đoàn học sinh Sài Gòn - Chợ Lớn đã vận động và tổ chức cho hơn 2.000 học sinh ,
sinh viên các trường Pétrus Ký, Gia Long, Nguyễn Văn Khuê, Huỳnh Khương Ninh,
trường Đại học Y Dược, Pháp Lý, các trường chuyên nghiệp vô tuyến điện, công
chính, kỹ thuật, khoa học,… cùng nhiều giáo viên và 7.000 nhân dân Sài Gòn -
Chợ Lớn biểu tình đòi bảo đảm an ninh cho học sinh, sinh viên học tập và trả tự
do cho những học sinh, sinh viên bị bắt – trong đó có Ban lãnh đaọ học sinh cứu
quốc Saì Gòn. Đoàn biểu tình kéo đến Nha học chính và Dinh thủ hiến bù nhìn đưa
yêu sách. Bọn cảnh sát và lính lê dương ra đàn áp dã man đoàn biểu tình. Thái
độ đó đã làm đám đông phẫn nộ, bùng nổ cuộc xung đột. Những người biểu tình
dùng mọi thứ vũ khí có trong tay chống trả quyết liệt với lính Pháp, lính Âu
Phi và công an Bình Xuyên. Trần Văn Ơn, người thanh niên tiêu biểu cho lòng yêu
nước và ý chí đấu tranh bất khuất của học sinh, sinh viên đã bị bọn chúng giết
hại trong cuộc xung đột đó. Tại Sài Gòn, ngày 12/01/1950 đám tang anh Trần Văn
Ơn đã biến thành cuộc biểu tình thị uy của trên 5 vạn người đứng trên các hè
phố tiễn đưa anh. Lễ tang anh Trần Văn Ơn cũng đã được cử hành trên khắp các
tỉnh thành trong cả nước. Hàng triệu lượt học sinh, sinh viên và đồng bào các
giới đã đeo băng tang truy điệu với lòng thương tiếc và xuống đường tuần hành
bày tỏ ý chí căm thù.
Bài điếu văn
trong buổi lễ tang có câu :
“Ai chết vinh buồn chăng ? Ai sống nhục thẹn chăng ?”
Những câu hỏi đó cứ vang mãi trong những tháng năm đen tối của
đất nước, thúc giục bao thế hệ trẻ noi gương Trần Văn Ơn, quên mình xông lên
phía trước. Đại hội Liên đoàn Thanh niên Việt Nam tháng 2/1950 tại căn cứ địa
Việt Bắc đã lấy ngày 09/01 làm ngày truyền thống hàng năm của học sinh, sinh
viên Việt Nam. Truyền thống vẻ vang đó đã được các thế hệ học sinh, sinh viên
kế thừa oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trở thành bất
diệt.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)











